Hoài niệm múa thiên cẩu

Đầu thế kỷ XX, cứ vào dịp Nguyên tiêu, ngày khai trường, đặc biệt là tết cổ truyền hay trung thu, khắp các con phố nhỏ dài của Hội An râm ran rồi rộn ràng nhịp trống múa thiên cẩu. Hình thức sinh hoạt văn hóa đặc thù của người dân bên sông Hoài, nơi giao nhau của 3 luồng văn hóa Việt – Nhật – Hoa đến nay chỉ còn trong nỗi nhớ…

Múa thiên cẩu giờ chỉ còn trong ký ức người dân Hội An. (Ảnh tư liệu của Trung tâm Bảo tồn di tích Hội An).

Múa thiên cẩu giờ chỉ còn trong ký ức người dân Hội An. (Ảnh tư liệu của Trung tâm Bảo tồn di tích Hội An).

Thăng trầm một điệu múa

Quen với lễ hội, lại đến trung thu, người dân Hội An náo nức chuẩn bị và đợi chờ. Duy chỉ có các cụ già là trầm tư xa vắng: “Trung thu bây giờ thiếu vắng lắm! Tết Trung thu này còn đâu múa thiên cẩu nữa…”. Ngày trước, hai đôi thiên cẩu và thần hầu ở hai đầu cây cầu Nhật Bản lúc nào cũng được khói hương nghi ngút. Mỗi buổi sáng ai bước qua cũng cúi đầu mà lòng nhẹ nhàng thanh thản còn bây giờ thì Chùa Cầu chỉ được cúng vái vào vài dịp rằm, mùng một hay dịp tế lễ thôi.

Thiên cẩu không chỉ có mặt trong đời sống tâm linh mà còn hiện hữu ở các công trình tín ngưỡng xưa của người Nhật. Thiên cẩu – “chó trời” – trong tâm thức của người Hoa có ý nghĩa như một vị thần hộ mạng. Theo truyền thuyết, vào đời nhà Tùy bên Trung Quốc, bệnh đậu mùa hoành hành dữ dội. Thương xót người dân nên Ngọc Hoàng sai thiên cẩu xuống trần gian dùng phép thần xua tan tà khí, tiêu trừ ôn dịch. Nhân dân thoát nạn vô cùng biết ơn, vì thế cứ vào những dịp lễ hội lớn như Tết Nguyên đán, Nguyên tiêu, Tết Trung thu, người dân dùng tre uốn nắn thành đầu thiên cẩu múa để thờ cúng, tỏ bày lòng biết ơn và cầu mong cuộc sống an bình.

Anh Trương Hoàng Vinh, Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản TP.Hội An cho biết: “Khi múa thiên cẩu từ Trung Quốc đưa sang và “ở lại” với Hội An, hình thức múa này cũng là ước muốn của người dân Hội An vừa để trừ tà, cũng như cầu mong cuộc sống yên bình, phát đạt hơn và dần dần ngấm sâu vào đời sống của người dân nơi này”. Múa thiên cẩu ở Hội An cũng đã qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Đầu thế kỷ XX, ông Trịnh Cẩm Quân, một người Hoa thuộc hệ phái Thiếu Lâm của Hội quán Quảng Triệu mở lớp dạy võ, ban đầu chỉ dành cho các Hoa kiều về sau mở rộng sang cho cả các võ sinh người Việt. Khi mà các võ sinh đã tiếp thu được những ngón võ thuật ưng ý nhất, ông Trịnh bắt đầu dạy các học trò múa thiên cẩu. Đội múa thiên cẩu đầu tiên của Hội An ra đời với tên Đại Hòa Lạc. Đội thiên cẩu Đại Hòa Lạc hoạt động sôi nổi mãi đến năm 1947 thì tan rã vì lúc này ông Trịnh qua đời, thực dân Pháp tái chiếm Hội An. Bước sang những năm 1947- 1956, đội thiên cẩu Hội An được tái thành lập và duy trì hoạt động trong lòng khu phố cổ, chủ yếu là quanh khu vực đình Cẩm Phô. Đến năm 1956, đội hoạt động cầm chừng rồi cũng giải tán vì không tìm được người chèo lái. Sau năm 1956, Nghiệp đoàn bốc vác Hội An thành lập đội thiên cẩu mới, hoạt động rất mạnh mẽ và được chính quyền mời ký các hợp đồng biểu diễn vào các dịp lễ hội chính trong năm.

Sau ngày giải phóng, trong những năm 1975-1990, đội thiên cẩu Hội An hoạt động rất rầm rộ. Lúc này, với người dân Hội An, múa thiên cẩu đã trở thành một phần không thể thiếu. Thế nhưng từ năm 1990 trở về sau, khi các bậc trưởng bối của nghệ thuật múa thiên cẩu ngày một già đi thì thế hệ trẻ lại không mấy thiết tha, vả lại nhu cầu cúng tế, bài tà cũng ít đi. Các đội múa dần rơi vào hoạt động tự phát, thiếu kỹ thuật rồi đi vào quá vãng.

Truyền nhân cuối cùng

Ông Phạm Văn Thành, người múa thiên cẩu cuối cùng ở phố Hội.

Ông Phạm Văn Thành, người múa thiên cẩu cuối cùng ở phố Hội.

Trong những năm trước và sau 1975, khi Nghiệp đoàn bốc vác Hội An thành lập đội thiên cẩu, lúc này “lĩnh xướng” Phạm Bồn cùng với các đồng nghiệp của mình không ngừng chăm lo để duy trì hoạt động của đội múa. “Tre già măng mọc”, cứ thế ông Phạm Bồn truyền nghề cho con là ông Ba Đan, tức Phạm Văn Loan. Năm 19 tuổi, ông Ba Đan đã cùng đội thiên cẩu đi biểu diễn khắp mọi nơi, gần thì lên Điện Bàn, xa hơn thì ra Đà Nẵng, vào Quảng Ngãi, Bình Định… Cứ thế, ông Ba Đan truyền lại cho con trai mình là Phạm Văn Thành. Những năm 1971-1972, khi chỉ mới 13-14 tuổi, ông Thành đã cầm mác vót tre tham gia “bẻ” đầu thiên cẩu, hay theo đoàn múa đi nhiều nơi… Đến nay đã ngoài ngũ tuần, không còn tham gia đội thiên cẩu từ lâu, ông Thành tâm sự: “Đến giờ mới thấm thía thế nào là nỗi nhớ”. Rồi ông nhẹ nhàng như cải chính: “Hồi trước, độ lùi xa quá thì tôi không biết thế nào chứ đời ông nội, đời cha thì tôi rõ lắm. Múa thiên cẩu như cái nghiệp đã chọn mình, đã đeo vào người thì “say” không gỡ được. Chỉ tiếc là thời trai trẻ qua mau quá. Con trai tôi mấy đứa không đứa nào tha thiết như tôi ngày trước”.

Múa thiên cẩu không chỉ là một hình thức vui chơi, trước hết đây là một nhu cầu tín ngưỡng, tế lễ nên nghệ thuật múa này có nhiều đòi hỏi khắt khe từ gia công đầu thiên cẩu, trang phục cho đến cách dùng đạo cụ và trình tự các bài diễn. Để “bẻ” được một cái đầu thiên cẩu như ý thì “tre nắn” làm đầu phải có độ già vừa phải. Tre đem chẻ, phơi một nắng vừa phải đem vào uốn nắn làm đầu từng bước, phơi thêm hai đến ba nắng nữa để tránh “nhót” dây cố định rồi phủ lót bằng vải trắng, dán giấy rồi sơn màu. Điều đặc biệt, hình tượng thiên cẩu trong tâm thức người Hội An có sự mô phỏng đan xen giữa hình tượng cá và rồng trong truyền thuyết. Vì thế, mắt thiên cẩu là mắt cá, vẩy lại là vẩy rồng, đuôi rất dài, sừng răng cưa kéo nhọn lên tận mắt. “Bẻ được một cái đầu thiên cẩu phải tốn hàng tháng trời, thật kỳ công trong từng công đoạn. Chỉ riêng mang tai hình con cá lồi ra đã mất nhiều công sức rồi, đó là chưa nói đến mắt, đến tai đến sừng…” – ông Thành nhấn mạnh.

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tục thờ chó đã phổ biến từ rất lâu. Riêng ở Hội An, thiên cẩu được cúng vái ở Chùa Cầu. Con vật trong Tô-tem giáo mà người Nhật sùng bái hiện hữu ở Chùa Cầu, từ bao đời nay đã là vị thần trong tâm thức dân gian của người Hội An. Được tạc bằng gỗ, có vóc dáng bình thường như chó thật nhưng tâm thế sẵn sàng chồm lên phía trước để đối đầu với cái ác, thiên cẩu vẫn được xem là biểu tượng an lành của người dân Hội An.

Trang phục cho đội múa thiên cẩu là quần đen hoặc trắng, áo trắng, đầu chít khăn vàng; riêng những người cuốn đuôi thì chít khăn đỏ. Còn đạo cụ là sự phối hợp nhịp nhàng chủ yếu của trống, thanh la và xập xỏa. Những người múa thiên cẩu phải giỏi võ, và đòi hỏi sự thống nhất toàn đội trong từng nhịp bước, động tác nhảy. Mỗi lần diễn, toàn đội 30 người phải được tập dượt trước trong khoảng 15-20 ngày… Cũng theo ông Thành, múa thiên cẩu không có nhiều bài “tủ” như múa sư tử. Trình tự bài múa chủ yếu chỉ là: thiên cẩu và ông Địa vái chào, tiếp đến thiên cẩu ăn lá đa, xỉa răng rồi chìm vào giấc ngủ; thiên cẩu thức dậy, vươn vai, đùa giỡn với ông Địa, rồi vào nhà ban điều may cho gia chủ, nhận phần thưởng và lạy tạ. Nhịp điệu cũng chậm rãi hơn, vì thế mà múa thiên cẩu mang đặc trưng là sự từ tốn, khoan thai, nhịp nhàng, cũng là một cách rèn luyện lối sống… Múa thiên cẩu cũng mang đậm tinh thần trượng nghĩa. “Vái tạ ở đình Cẩm Phô là một nghi thức bắt buộc để tạ ơn thần linh. Rước Long chu hay các dịp tế lễ, đội múa thiên cẩu cũng không thể thiếu mặt. Không chỉ vậy, trước mỗi buổi diễn, đội Thiên Cẩu bao giờ cũng chuẩn bị tâm thế thật uy nghiêm để đến vái lễ Thiên Cẩu ở Chùa Cầu và Quan Công ở miếu thờ Quan Thánh Đế Quân” – ông Thành nhớ lại.

Trung thu lại đến, nhưng trên các ngõ phố thiếu vắng múa thiên cẩu khiến người dân Hội An nao lòng. Như chính nỗi niềm của truyền nhân cuối cùng…

Theo Báo Quảng Nam

Bài viết liên quan :

Các bài viết khác...