Hội An – chuẩn mực quốc tế về bảo tồn.

Vấn đề trùng tu di tích và bảo tồn di sản đang nóng lên trên dư luận trong thời gian này. Đây cũng là thời gian diễn ra hội nghị đánh giá kết quả thực hiện dự án tổng thể đầu tư bảo tồn, khai thác khu phố cổ Hội An. Những kinh nghiệm thành công của Hội An có thể trở thành một “kiểu mẫu” cho các di sản khác ở Việt Nam. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn GS. TS. KTS Hoàng Đạo Kính – một trong những người khởi xướng nghiên cứu bảo tồn di sản đô thị Hội An từ năm 1982 và trực tiếp tham gia, theo dõi sát sao sự nghiệp này trong suốt 27 năm qua.

* Là người gắn bó với công tác bảo tồn Hội An từ những ngày đầu và tâm huyết với sự nghiệp này trong suốt một thời gian dài, ông có thể cho biết vài đánh giá của mình về công việc bảo tồn khu phố cổ Hội An?

- Theo tôi, những việc đã làm và có kết quả (có thể đánh giá là thành công) mà sự nghiệp bảo tồn khu phố cổ đạt được, đó là: Hội An là di sản đô thị đầu tiên ở Việt Nam được gọi đúng tên, được nghiên cứu từ nhiều phương diện, bởi nhiều lực lượng chuyên môn khác nhau, trên cơ sở phương pháp luận và bài bản kỹ thuật tương ứng.

GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính (đứng) trong hội nghị khoa học về bảo tồn khu phố cổ năm 1985

GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính (đứng) trong hội nghị khoa học về bảo tồn khu phố cổ năm 1985

Năm 1982, tiểu ban Ba Lan – Việt Nam về trùng tu di tích kiến trúc Chăm đã bắt đầu công việc nghiên cứu phố cổ Hội An, với tư cách là một di sản đô thị, kéo dài 4 năm. Chúng tôi đã thực hiện đầy đủ quy trình và bài bản khảo cứu di sản đô thị…

Đây là một thành quả nghiên cứu rất có giá trị, bởi nó là xuất phát điểm cho mọi bước tiếp theo về bảo tồn di sản đô thị Hội An, là cái mà trong việc nghiên cứu các di sản đô thị khác sau này ở ta xem ra vẫn thiếu.

Trong 27 năm qua, nhiều cơ quan và tổ chức khoa học từ Trung ương đến địa phương đã dành nhiều công sức cho công cuộc nghiên cứu Hội An. Cùng với sự quan tâm đặc biệt đến địa hạt khảo cổ học và di sản kiến trúc đô thị, là nhiều lĩnh vực khác nữa, góp phần làm cho Hội An đến hôm nay là một tài nguyên lịch sử – văn hóa và kiến trúc được “thâm canh” nhất về phương diện nghiên cứu.

* Theo ông, kết quả đặc biệt nhất mà sự nghiệp bảo tồn của Hội An đạt được so với những địa phương có di tích, di sản khác là gì?

- Công tác bảo tồn và trùng tu di sản kiến trúc ở Hội An trong hai thập kỷ qua chẳng những khắc phục tình trạng xuống cấp “kịch tính” của các di tích, mà còn nâng cấp diện mạo chung của khu phố cổ, nâng cao chất lượng sống cho người dân, tạo nên sự đảm bảo cho di sản tồn tại lâu dài hơn.
Quy chế quản lý, bảo tồn, sử dụng di tích khu phố cổ Hội An do UBND thành phố Hội An ban hành năm 2006 là một công cụ bảo tồn di sản đô thị cổ thật sự hữu ích, đúng với cách ứng xử và do đó mang tính khả thi. Văn bản này hay ở chỗ nó không chủ trương biến khu phố cổ thành bảo tàng, nó tính tới và mở đường cho sự song tồn của hai nhân tố cơ bản: Di sản kiến trúc và nhu cầu tiếp tục sống của dân cư và tiếp tục phát triển của đô thị. Nó khả thi về sự chấp nhận tất yếu phần “mềm” và phần “cứng” trong bảo tồn. Nó sát với di tích, lại chấp nhận được đối với chủ nhân của chúng. Tính khả thi quyết định năng lực và hiệu quả của quản lý. Khu phố cổ Hà Nội chưa thành công bởi quy chế áp đặt cho nó là của một khu bảo tàng, khu di tích.
Thêm nữa, trong những năm qua, Hội An đã trở thành nơi hội tụ của các nhà bảo tồn và khảo cổ học từ các nước, từ các lực lượng chuyên môn quốc nội. Chính sự gặp gỡ của những cách ứng xử có phần khác nhau về bảo tồn đã nâng công tác bảo tồn di sản Hội An lên tầm và chuẩn mực quốc tế. Theo tôi, các di sản đô thị ở Hà Nội, Huế, Hải Phòng, TP.HCM, Đà Lạt có thể rút ra được nhiều điểu bổ ích cho công việc bảo tồn của mình.

* Ông có ấn tượng gì về Hội An hôm nay so với Hội An của 27 năm trước?

- 27 năm trước, khi chúng tôi bắt tay vào khảo cứu Hội An, thị xã nhỏ và nghèo này còn bị rung chuyển bởi sự vận hành của ngót 700 cỗ máy gỗ dệt vải thô xuất khẩu. Phải là những nhà không tưởng của thế kỷ XVII -XVIII mới bạo gan mơ tưởng về cái ngày dân Hội An giàu lên, mở mày mở mặt bởi di tích. Ấy thế mà lâu nay người Hội An, có phần “bảo thủ”, đã điềm nhiên chuyển sang cửa tiệm, mọc lên những dãy phố dày đặc những tiệm may mặc, tiệm bán tranh, tiệm hàng lưu niệm, làm và bán đèn lồng. Hơn 65% thu nhập của thành phố là từ dịch vụ – du lịch – thương mại. Tỷ trọng này xấp xỉ với các trung tâm du lịch lừng danh trên thế giới. Nay có thể nói Hội An bước sang giai đoạn 3 của sự tiến hóa lịch sử: giai đoạn I – cảng thị; giai đoạn II – tỉnh lỵ; giai đoạn III – trung tâm du lịch quốc tế thuộc loại sầm uất nhất nước.

Hơn mọi nơi nào khác, dân Hội An hiểu rằng di sản ông cha họ để lại chính là tài nguyên của họ. Không giữ được nó, lấy gì mà làm ra tiền của. Năm 2007, tổng số khách du lịch đến Hội An trên 1 triệu người. Nghĩa là 13 khách du lịch trên một người dân. Cả nước ta không đâu có số lượng khách như vậy. Điều đáng ghi nhận là khách đến Hội An thường lưu trú vài ngày, họ say mê khám phá những cái không phải là kỳ quan và họ thường trở lại đây. Hội An đã trở thành đất lành để chim đậu.

Theo: TT&VH – thethaovanhoa.vn -Khiếu Thị Hoài (thực hiện)

Bài viết liên quan :

Các bài viết khác...