Hồn Việt bên sông Hoài

Có lẽ sẽ không nhiều người biết rằng, cô gái thướt tha mà bình dị trong chiếc áo dài, đang ngồi ở gian nhà “quốc văn”, bán những vật dụng bằng gỗ, là một Việt kiều. Bố người Sài Gòn, mẹ người Huế, Thanh Đào sang Pháp từ năm hai tuổi rưỡi, nay đã 35 tuổi. “Ở nhà em nói tiếng Việt, ăn món Việt nên em nói tiếng Việt mình được mà”.

Cơn gió lang thang tuổi trẻ đưa cô về bên bờ sông Hoài phố Hội này đã gần bảy tháng, lập công ty buôn bán nội thất bằng gỗ. Cái lạ là ở chỗ, hàng của cô là đồ phế phẩm, ví như đòn tay nhà cổ, viên đá tán cũ chỉ thấy trong căn nhà xưa, cô biến nó thành chân bàn ngồi uống nước. Cánh cửa với hoa văn chạm lộng ngả màu, dễ dàng trở thành bức tranh nhỏ trong căn nhà hiện đại. “Có thể tìm thấy nước mình trong một không gian sống, thu nhỏ. Ba mẹ cũng dạy em điều đó, nhưng có dịp xem tận mắt, sờ tận tay những phẩm vật văn hóa ba miền là chuyện không dễ dàng. Lạ thật”.

Thanh Đào trong gian nhà "quốc văn" của mình

Thanh Đào trong gian nhà "quốc văn" của mình

Lạ thật. Cô cứ nhắc đi nhắc lại mãi hai từ này. “Người Việt Nam mình thích chạy theo hàng mới, chứ nước ngoài người ta quý đồ cổ lắm, vì thế em về quê là nghĩ ngay đến chuyện kinh doanh đồ cổ”. Một ý tưởng kinh doanh. Đúng, nhưng không biết tôi có vận vào hay không, khi cho rằng, ẩn sâu dưới suy nghĩ kia, một dòng chảy, có thể là vô thức, là sự quay về với chuyện ngày xưa, chuyện của quê hương bản quán, chuyện của nếp nhà…
Tôi gọi “Không gian văn hóa Việt” bên sông Hoài – Hội An lần này là không gian trở về. Đúng với tên gọi của nó, người ta có thể tìm thấy phẩm vật, những đặc trưng văn hóa của các vùng miền. Cái câu “Hội An lễ hội liên miên – khán giả thì ít diễn viên thì nhiều” của ai đó đặt cho, nói chuyện nhàm chán, bội thực lễ hội tại Hội An, lần này phải tạm quên đi, bởi không gian này không có đất cho sân khấu hóa, cho trình diễn, mà là thật “làm thật, dù là thử nghiệm” – lời của nhà báo Nguyễn Hữu Hương, tác giả kịch bản chương trình.

Trẻ con xúm xít bên những con tò he đất, chiếc mo cau được dập thẳng vẽ trên đó bến nước cây cầu, 12 con giáp, lạ lẫm trước nhịp quay tơ và những nong tằm chỉ còn trong ký ức những làng mạc ven sông Thu Bồn. Người lớn thảy trên tay hạt nếp Mường, so bì với hạt gạo Cần Thơ, chen vào nghe giáo sư Trần Văn Khê nói chuyện âm nhạc dân tộc, trầm trồ trước trống đồng Đông Sơn phỏng theo chiếc trống Ngọc Lũ còn rực lửa, vừa được nghệ nhân xứ Thanh đúc tại chỗ tặng Hội An. Ai đó sẽ kinh ngạc trước truyện Kiều độc bản nặng 70 kg viết trên giấy dó mang từ quê Nguyễn Du vào, rồi ghé gian “Đạo nhà” nhâm nhi ly trà giữa trường kỷ cũ, bốn bề câu đối… Câu chuyện của những trải nghiệm, lịch đời ở đôi chân tang bồng hồ thỉ qua các vùng đất khác nhau, nay được dịp sống lại.

Còn với những người như Thanh Đào, có lẽ nó mở ra một không gian khác. Giữa dòng chảy tấp nập của cuộc sống hiện đại, nhịp chậm rãi vốn đã cố hữu của phố cổ cuối dòng Thu Bồn này, một lần nữa dắt người ta vào một khoảng lặng chiêm nghiệm về những giá trị sống, những gì đã làm nên mạch sống dân tộc đất đai này, mà không ít những thứ quen thuộc ra đi từ làng quê, làm nên hồn cốt dân Việt đã vĩnh viễn là “di sản đã mất”. Dừng lại có nghĩa là thụt lùi, là tự giết mình, nhưng cứ thế mà đi, sẽ không biết mình đang mang cái gì trên vai, của nả có gì để gương mặt mình không bị nhòa đi. Một lần ngoái lại, cần thiết biết bao, rồi bước tiếp… Ở bên kia phố, trong khu vực phố cổ, dân phố và du khách xuýt xoa trước những người đẹp đến từ xứ sở hoa anh đào đang trình diễn kimono cùng các tà áo dài Việt trong chương trình lễ hội Việt – Nhật. Mấy trăm năm nước, người Nhật đã đến đây, lập nên phố Nhật, cùng người Việt xây nên chùa Cầu – biểu tượng của Hội An. Nhìn những cô gái Nhật tươi cười mà khép nép trong bộ áo dân tộc họ, ai đó thốt lên, người Nhật hiện đại mà dân tộc tính của họ cao biết bao nhiêu…

Có một người nước ngoài làm khách liên tục mấy ngày tại “không gian văn hóa Việt”, đó là thiền sư Ashin Kovida, tu tập tại thiền viện Pa Auk, tiểu bang Mon, Mawlamyine, Myanma. Ông nói rằng, lần này đến Hội An, ông thấy lễ hội tại đây giống lễ hội Phật giáo tại Myanma, văn hóa Việt cũng có nét tương đồng văn hóa Myanma, cũng có trà đạo, trưng bày sản phẩm truyền thống, thi đấu võ thuật, vì cùng chủng văn hóa Á Đông. Trà Việt Nam đậm hơn trà Myanma nhưng giống như xứ sở chúng tôi, ly trà là đầu câu chuyện, là vật của chư thiên, của Đức Đế Thích ban cho thần dân, nên mỗi lần uống là nhớ đến ngày xưa, đến tinh túy của đất trời . Và trước những câu hỏi dồn dập, ông cười, đẩy ly trà về phía tôi, trả lời như một công án “hãy uống hết ly trà”…

Mộc Miên – báo Phụ Nữ

Bài viết liên quan :

Các bài viết khác...

Từ khóa - Tags: · · · ·